Diễn biến lãi suất những năm gần đây

Trong bài viết này, chúng sẽ xem xét những biến động lãi suất giai đoạn từ năm 2010 đến cuối năm 2016 và có cái nhìn cơ bản về tình hình lãi suất vào năm mới 2017.

diễn biến lãi suất những năm gần đây

Diễn biến lãi suất từ năm 2010 đến nay

Vào năm 2010, sau khủng hoảng của thị trường tài chính thế giới năm 2008, nhà nước ta vẫn áp dụng những chính sách tiền tệ thận trọng trong tình hình nền kinh tế cả nước vẫn đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình phục hồi. Nhờ những nỗ lực trong việc hạ mặt bằng lãi suất huy động mà đến tháng 7/2010, lãi suất huy động đã giảm từ quanh ngưỡng 12% xuống còn 11%-11.2%/năm và giữ ổn định đến hết tháng 10. Tuy nhiên đến cuối năm, lạm phát tăng cao gây áp lực lên các ngân hàng, mặt bằng lãi suất huy động lại chạm mốc 12% và có lúc còn tăng mạnh đến 17%- 18%. Để ngừng việc chạy đua lãi suất giữa các ngân hàng thương mại, ngân hàng nhà nước đã phải sử dụng biện pháp hành chính quy định mức lãi suất huy động không được vượt quá 14%/năm. Kết thúc năm 2010, lãi suất huy động dao động từ 13% đến 14%.

Sang đến năm 2011, nền kinh tế Việt Nam vẫn vật lộn với những tàn dư của cuộc khủng hoảng. Đầu năm, lãi suất huy động  bằng VND có vẻ đã hạ nhiệt khi giữ vững ở mức 13%- 14% trong khi thị trường lãi suất USD lại nóng lên do nhu cầu vay vốn bằng ngoại tệ tăng cao. Sang đến giữa năm, các ngân hàng lại tham gia vào một cuộc đua lãi suất mới, đẩy mặt bằng lãi suất tăng cao, nhất là lãi suất cho vay, có lúc lên đến 25% gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp, triệt tiêu động lực sản xuất kinh doanh. Tháng 7/2011, lạm phát tăng đến 22% đã đẩy hàng loạt mức lãi suất vượt mức buộc ngân hàng nhà nước phải sử dụng các biện pháp cứng rắn hơn để ổn định tình hình thị trường tiền tệ. Tuy nhiên có vẻ những hành động của NHNN không có mấy kết quả khi kết thúc năm 2011, mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao, lãi suất cho vay ở ngưỡng 17%-19%.

Những biến động mạnh trong năm 2011 đã tạo thách thức cho NHNN trong việc điều chỉnh mặt bằng lãi suất trong năm 2012. Lạm phát giảm từ mức 20% xuống còn dưới 7% đã ổn định phần nào nền kinh tế. Lãi suất cho vay cũng giảm chỉ còn 12%- 13%. Từ đó, các quy định bó buộc của NHNN đối với các NHTM cũng được dần cởi bỏ.

3d small people - low interest rates

Nhờ đợt giảm lãi suất mạnh trong năm 2012 mà đến năm 2013, thị trường tiền tệ cũng không mấy biến động. Đến cuối năm, lãi suất huy động giảm nhẹ xuống còn quanh mức 8%-9%/năm kỳ hạn 12 tháng trở lên, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh chỉ còn 8%-11,5%/năm trung và dài hạn. Những nỗ lực của chính phủ đã được đến đáp, các doanh nghiệp cũng vững tin hơn tập trung vào sản xuất kinh doanh, phát triển đất nước.

Lãi suất năm 2014 vẫn nằm trong xu hướng giảm. Lãi suất cho vay khoảng 9,5 – 11%/năm áp dụng cho các khoản vay trung và dài hạn. Hệ thống ngân hàng cũng từng bước ổn định, không còn mong manh như những năm 2011 từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn toàn cầu.

Năm 2015, lãi suất tiếp tục giảm nhưng so với các nước trong khu vực cũng như thế giới, mặt bằng lãi suất của Việt Nam vẫn khá cao, đặc biệt là lãi suất cho vay.

Nhìn lại năm 2016 vừa qua, lãi suất huy động đã tăng trở lại trong khi lãi suất cho vay lại giữ vững ổn định, nguyên nhân chủ yếu do sự chạy đua vốn huy động giữa các ngân hàng thương mại. Cụ thể, đến cuối năm, lãi suất huy động ở mức 6,5%-8%/năm kỳ hạn trên 12 tháng.

Dự báo tình hình lãi suất năm 2017

Nếu tình trạng cạnh tranh vốn huy động vẫn tiếp tục thì dự báo trong năm 2017, lãi suất huy động sẽ được điều chỉnh tăng. Tuy nhiên, sự gia tăng này cũng không quá lớn do lạm phát vẫn được kiểm soát ở mức thấp, nguồn cung và cầu vốn vay trong nước không có nhiều biến động.

Tuy nhiên, những suy đoán trên vẫn có thể sai lầm khi tình hình chính trị thế giới năm qua trải qua nhiều biến động. Qua tìm hiểu diễn biến lãi suất những năm gần đây chúng ta cũng thấy rằng với đội ngũ ngân hàng còn non trẻ, hệ thống điều chỉnh còn lỏng lẻo, mặt bằng lãi suất ở nước ta vẫn còn rất nhiều bấp bênh, rất khó cho việc dự báo sự thay đổi lãi suất trong tương lai.

 

 

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất trên thị trường

Nhân tố chính ảnh hưởng gây biến động lãi suất là sự thay đổi trong cung và cầu vốn vay trên thị trường. Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu các thành phần tạo nên cung, cầu vốn vay. Tiếp đó là xem xét những yếu tố tác động đến hai đại lượng này để từ đó làm thay đổi lãi suất trên thị trường tiền tệ.

Bộ phận cấu thành cung và cầu vốn vay

Nhu cầu vay vốn trên thị trường tiền tệ đến từ mọi tầng lớp, từ từng cá nhân cho đến những cơ quan tổ chức có quy mô. Chính phủ có nhu cầu vay tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, cá nhân, doanh nghiệp mong muốn có tiền để trang trải chi phí phát sinh trong sản xuất, tiêu dùng và cả những chủ thể nước ngoài cũng là góp phần tạo nên cầu vốn vay.

Ngược lại với cầu, là cung. Cung quỹ cho vay được cấu thành từ các bộ phận sau: tiền tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình, các quỹ tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp, thặng dư ngân sách nhà nước ở Trung Ương và địa phương, nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài, v..v.

Khi cung và cầu vốn vay bằng nhau , ta có mức lãi suất cân bằng.

Các yếu tố thay đổi cung và cầu vốn vay

Có nhiều yếu tố làm thay đổi cung và cầu vốn vay trên thị trường tiền tệ dẫn đến thay đổi mức lãi suất cân bằng. Trước tiên, chúng ta xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến cầu vốn vay.

Trong điều kiện kinh tế tăng trưởng, nếu có nhiều cơ hội đầu tư tiềm năng thì nhu cầu vay vốn sẽ càng tăng dẫn đến lãi suất tăng. Ví dụ, thị trường nhà đất sôi động khiến nhiều nhà đầu tư có mong muốn vay vốn để đầu tư vào bất động sản khiến cầu về vốn tăng dẫn đến tăng lãi suất.

Bên cạnh đó, lạm phát cũng là một yếu tố quyết định đến lãi suất. Trong bài viết về cách tính lãi suất cơ bản, chúng ta đã biết lãi suất thực được tính bằng cách lấy lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát. Vậy, khi lạm phát dự tính tăng sẽ làm giảm lãi suất thực từ đó làm giảm chi phí thực của tiền vay, làm tăng nhu cầu vay vốn và lãi suất trên thị trường tăng. Trường hợp lạm phát giảm sẽ tạo hiệu ứng ngược lại.

Một yếu tố không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến cầu vốn vay đó là tình hình ngân sách của chính phủ. Nước ta là một nước có thâm hụt ngân sách hàng năm khá cao với nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa đề cao vai trò của doanh nghiệp nhà nước, nhu cầu vay vốn để bù đắp ngân sách của chính phủ tạo nên lượng cầu vốn vay tương đối lớn từ đó góp phần làm tăng lãi suất.

Chúng ta tiếp tục tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến cung vốn vay trong mối quan hệ với lãi suất.

Chúng ta vừa nhận định rằng khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ khiến cầu về vốn vay tăng dẫn đến nâng cao mặt bằng lãi suất. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân cũng tăng theo. Khi thu nhập tăng thì lượng tiền tiết kiệm trong dân chúng cũng lớn hơn, cung dồi dào khiến lãi suất giảm. Đây là sự tự cân bằng của thị trường, giúp cho lãi suất luôn ổn định.

Thực tế chứng minh rằng các ngân hàng luôn dành mức lãi suất cao hơn cho các khoản tiếp kiệm với kỳ hạn dài hơn. Thứ nhất, hầu hết mọi người thường không thích rủi ro, với một mức lợi nhuận giống nhau, họ sẽ ưu tiên chọn kênh đầu tư ít rủi ro nhất mà thời gian càng dài thì rủi ro càng lớn. Thứ hai, dân chúng ưa thích những khoản tiết kiệm có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh chóng (có tính thanh khoản/tính lỏng cao). Từ đó, ta có thể thấy mức độ rủi ro và tính thanh khoản cũng có tác động đến cung vốn vay.

Dù vậy, ở nước ta, cung tiền tệ được nhà nước quản lý khá chặt chẽ nhằm kiềm chế lạm phát, điều chỉnh mức lãi suất cho phù hợp với từng thời kỳ.  Khi lạm phát tăng cao gây áp lực lên lãi suất, chính phủ sẽ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ bằng nhiều cách như tăng mức dự trữ bắt buộc, giảm lãi suất chiết khấu, giảm hạn mức tín dụng, v..v. Mức cung tiền sẽ giảm đi khiến cho lãi suất tăng.  Còn khi có nguy cơ suy thoái kinh tế, chính phủ lại thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ khiến cho lãi suất giảm, cung tiền dồi dào hơn từ đó khuyến khích đầu tư kinh doanh, phát triển kinh tế.

Với sự thay đổi cung và cầu vốn vay sẽ dẫn đến sự biến động lãi suất trên thị trường tiền tệ. Mà cung và cầu lại bị ảnh hưởng bởi vô vàn các yếu tố khác, trên đây chỉ là những yếu tố chính và đa phần mang tính lý thuyết. Thị trường trên thực tế phức tạp hơn nhiều, đòi hỏi mỗi nhà đầu tư khi muốn xem xét lãi suất cần phải có cái nhìn khách quan, đa chiều.